|
Như một thói quen, cuối năm phát siêng xắn tay áo dọn kho tôi bắt gặp 2
đoạn văn viết lâu rồi, đọc lại thấy nhớ quá những người bạn cùng cảnh ngộ ngày
xưa. Nhớ cả cái tốt lẫn cái xấu, nhớ những người bạn tâm đầu ý hợp cả những tên
sẳn sàng “đâm sau lưng chiến sĩ” trong suốt giai đoạn lửa thử vàng gian nan thử
sức đó. Hai câu thơ của Hoàng Phong Linh tức chiến sĩ đấu tranh trường kỳ không
mệt mỏi Võ Đại Tôn tự nhiên sống mạnh trong tôi “Tôi không sợ kẻ thù trước mặt –
mà ngại tình chiến hữu sau lưng” Câu chuyện dưới đây hoàn toàn có thật- thật cả
danh tánh của những nhân vật, tôi “ trình làng” lại để bằng hữu “lãm” với tựa đề
là …
I – Người tù tên …
A – Nguyễn Văn Bái
Tôi chú ý đến người bạn tù từ K5 chuyển sang. Anh ta bệnh hoạn ốm yếu, nước
da xanh nhợt, tóc dài gần chấm vai, khó nhọc lê từng bước trên cặp nạn gỗ. Anh
tự lo liệu sắp xếp chỗ ăn ở, âm thầm, cô đơn, chịu đựng.
Sáng hôm sau, một ngày Chúa Nhật nắng tốt, như thường lệ, không phải đi lao
động khổ sai, tôi có rất đông “khách hàng” hớt tóc. Tự nhiên tôi trổ nghề “ thầy
hù” ngon lành như một người chuyên nghiệp. Chỉ cần một cái kéo và một cây lược
là tôi có thể biểu diễn nghệ thuật cắt tỉa, giết thì giờ và giúp bạn bè. Và hôm
ấy, tôi có thêm một “thân chủ” mới. Anh Nguyễn Văn Bái, người tù với đôi nạng
gỗ, gây cho tôi ít nhiều xúc động ngày hôm qua. Tới phiên anh ngồi vào ghế, vì
chú ý đến anh, tôi không nhận ra nhiều người bạn nãy giờ đứng bao quanh tán gẫu
đã tảng đi. Vừa làm công việc, tôi vừa hỏi thăm an ủi anh. Từ đó tôi biết tên
anh và tôi nhớ mãi tới ngày nay. Bái kể rằng anh bị nhốt trong thùng sắt hơn 3
tháng rưỡi, hai chân anh bắt đầu bị liệt, nếu không có việc chuyển trại, chắc sẽ
chết trong cái conex đó.
Tôi thông cảm và chia sẽ cực hình mà người bạn tù mới quen phải chịu đựng.
Ngày nóng cháy người, đêm lạnh thấu xương, đói khát cô đơn. Tôi thầm mến phục
anh ta vì nghĩ rằng Bái lãnh cực hình đó, có lẽ là kết quả của tinh thần bất
khuất kiên cường của một sĩ quan QL-VNCH. Tôi biếu cho Bái tất cả số thuốc Tây
ít ỏi nhưng rất quí hiếm của tôi. Tôi dành cho anh một cảm tình đặc biệt. Nhưng
… Mọi việc hoàn toàn trái hẳn của tôi. Ngay buổi chiều tôi nhận lãnh những lời
chửi rủa rất thậm tệ của bạn bè. Tôi vỡ lẽ.
Nguyễn Văn Bái vốn là Thượng sĩ thuộc cơ quan tình báo Trung ương – ám số
101. Do nghiệp vụ, Bái có thể mặc thường phục hay quân phục. Và mỗi khi khoác
trây-di lên người, thì hàng xóm, khu cư xá đường Tô Hiến Thành, thấy trên cổ áo
của Bái hai bông mai vàng lấp lánh (Trung úy). Rồi Bái đi trình diện, ở tù cấp
sĩ quan. Vào trại, lần hồi anh ta thu phục sự tín cẫn của cán bộ quản lý trại,
đến nỗi được giao nhiệm vụ kiểm duyệt thư từ, bản “thu hoạch bình bầu” hàng
tuần. Nhiều lần, Bái dùng viết đỏ phê bác biên bản và buộc nhiều tổ phải họp
lại. Anh em vô cùng căm phẫn, nhưng chịu đựng tìm cách hạ con… chó ghẻ nầy. Được
biết, Bái bắt chước Hồ Chí Minh, viết Ngục Trung ký. Lời thơ và ý thơ của một
trình độ rẻ tiền đến khôi hài. Thế nhưng Bái tâng tiu như một kiệt tác. Tập thơ
bị đánh cấp và đến tay cán bộ trại giam. Rồi một tối nọ, Bái được lệnh thu xếp
hành trang. Anh mừng rỡ vì đinh ninh là sẽ được thả vì công lao hãn mã lâu nay.
Bái đâu ngờ. Cửa trại giam còn đóng kín. Cánh cửa sắt nặng nề của cái container
Conex mở rộng đón viên cựu thượng sĩ khoác áo sĩ quan. Người Cộng Sản đọc thơ
của Bái, đánh giá anh là “cực kỳ nguy hiểm”, vẫn mang tư tưởng “chống phá cách
mạng” v.v và Bái nằm co trong thùng sắt nghe sức khỏe tiêu mòn từng phút
từng giây, nghe lời chửi tủa thậm tệ của bạn tù. Cập nạng gỗ chịu đựng thân xác
của Bái. Thân xác, đầu óc, tai mắt của Bái chịu đựng sự sĩ vã của quần chúng,
anh em trường kỳ, dai dẳng. Cá nhân tôi, bạn bè thân quí hiểu tôi vô tình, chỉ
mắng rủa vài lời thô tục rồi thôi. Nhưng tôi nhớ, không phải nhớ những lời đó,
mà nhớ đến con chó ghẻ Nguyễn V. Bái.
B – Tạ Hữu Nam
Khi tôi lật Nam xuống khỏi chiếc võng thì toàn thân anh mềm nhũng, đồng tử
hai mắt mở to mất hồn. Anh được đưa xuống bệnh xá cấp tốc nhưng khoảnh khắc sau
thì người trật tự viên của trại trở lại phòng giam của chúng tôi, thốt lời rất
gọn: Anh Nam, xong rồi.
Hai mươi viên cloroquine tan chưa hết cũng đủ quật ngã Tạ Hữu Nam, Trung Úy
phân chi Trưởng Gò Đen, Sinh quán miền Trung, vạm vỡ to lớn, Nam hiền hậu, hòa
nhã, ít nói. Anh có những nỗi buồn riêng tư, vợ anh vốn là gái vũ trường, đã gởi
lại hai đứa con cho bà nội chúng, giả biệt anh mấy tháng sau ngày anh đi tù. Vết
thương đó lành từ lâu, anh tâm sự với bạn bè xem chuyện ấy mỗi khi nhớ lại, như
tay rờ phải cái thẹo trên thân thể mà thôi. Thế nhưng khi anh chết rồi, mấy tuần
lễ liền, đội (tù) chúng tôi phải ngồi hợp phân tách tại sao anh lại tự vận, biên
bản phải viết đi viết lại không biết bao nhiêu lần cũng chẳng vừa ý đám Công an
Cộng Sản,
- Các anh phải động não, đào sâu suy nghĩ viết rõ là anh Nam tự vận vì
lý do bị vợ bỏ..v.v… Câu nói chỉ đạo của Công an cán bộ Giáo Dục (Chính trị
viên) của trại nhiều lần lập lại, răn đe dọa nạt, nhưng chúng tôi không viết vào
biên bản theo ý ấy. Chúng tôi tôn trọng sự thật và sẵn sàng ngồi họp hành phân
tách cặn kẽ sự việc. - - Vợ của anh Nam bỏ anh vào tháng 10 năm
1975 thì không thể nào gần sáu năm sau, tháng 8 năm 1981, anh mới bị “cú đột
biến tình cảm, không nghị lực vượt qua đến nỗi có quyết định thiếu sáng suốt”
như vậy. Nam tự kết liễu đời mình vì không chịu nỗi sự hà khắc của chế độ cùng
với sự đói khát và tuyệt vọng. -
- Đội chúng tôi được xếp vào loại “lao động phổ thông”, làm bất cứ
công việc gì.. Thời điểm Tạ Hữu Nam quyên sinh, nhiệm vụ của đội là khai hoang,
phá rừng làm rẫy. Đêm trước ngày Nam chết, anh nói với
tôi: - - Bữa nay tao bị tiêu chảy, ngày mai tao khai bệnh. Sáng
hôm sau, tôi thấy Nam vẫn xếp hàng đi lao động. Tôi thắc mắc, thì Nam trả
lời: - - Đội mình đã có hai thằng khai trước rồi, ra ngoài
rừng, tao xin ngồi nghỉ cũng được. Tới hiện trường, Nam vẫn đào rễ, chặt cây như
bình thường, Nam rất tự trọng, anh không muốn để Cán bộ Công an hỏi tới, anh
cũng không muốn hỏi tới Cán bộ Công an. Buổi trưa, đội được về sớm. Cơm xong,
tôi leo lên sạp ở tầng trên để tìm giấc ngủ. Nam căng võng ở tầng dưới bên dãy
sạp đối diện. Tôi thấy Nam lấy thuốc ra uống, nghĩ rằng anh uống thuốc tiêu
chảy. Chốc sau, tôi nghe Nam nói một mình, giọng kỳ
kỳ: - - “Trời, tội nghiệp hai đứa nhỏ quá, hai đứa dễ thương
quá” - - Tôi liếc nhìn thấy Nam đang xem hai tấm hình. Tôi biết
đó là hình hai đứa con gái của anh, nhưng chả lẽ mình lại nói về con mình như
vậy sao. Một thoáng suy nghĩ rồi cũng qua. Tôi nhắm mắt. Bỗng Đại, người nằm kế
cận và rất thân với Nam, kêu tôi giật giọng: - - Ê mầy, mầy dậy
coi thằng Nam nó thế nào nè! Tôi nhảy xuống đất, nhào qua chỗ Nam nằm. Vài viên
thuốc đủ loại rải rác, hai tấm hình trên ngực áo anh. Tôi cảm nhận một điều bất
thường, Nam nằm yên như ngủ, tôi lay anh ta: - - Nam, mầy uống
thuốc gì vậy? - - Mắt nhắm nghiền, anh nói rất
nhỏ: - - Không có gì đâu, đừng làm ồn, trưa rồi để anh em
ngủ. - - Tôi vạch hai mắt anh, hai đồng tử mở to, mất thần khí,
tôi hỏi lớn hơn: - - Mày uống thuốc gì, nói mau, nói tao nghe
Nam. Bị vạch mắt, nhưng Nam không có phản ứng nào cả. Anh lập lại câu nói vừa
rồi rất êm dịu. - - Đừng làm ồn, trưa rồi để anh em
ngủ. - - Tôi lật Nam khỏi chiếc võng. Người anh mềm nhũng. Tôi
nói lớn: - - Anh nào ra báo cán bộ trực trại-Ê, Đại-Chánh
khiêng thằng Nam xuống bệnh xá. Tại đây, Nam được gây nôn, anh mửa ra rất nhiều
viên thuốc chưa tan hết. Bác sĩ hỏi anh uống bao nhiêu viên. Anh đưa tay ra dấu,
hai mươi rồi toàn thân anh giật nhẹ lên, anh nhắm mắt vĩnh viễn. Nhớ tới anh,
người bạn mang tên Tạ Hữu Nam, trước giờ lìa đời vẫn tôn trọng anh em. Lời nói,
cử chỉ, thái độ, tác phong, tư cách của anh tôi nhớ suốt
đời. - - Không có gì đâu, đừng làm ồn, trưa rồi để anh em
ngủ. - Ừ, đừng làm ồn, để anh em ngủ và chính anh đã tìm một giấc
ngủ êm đềm. Gần ba mươi năm qua rồi, ở một xó rừng xa côi mang tên Gia Trung đó,
thân xác anh trong chiếc quan tài gỗ tạp đã mục nát từ lâu, hương hồn giờ phiêu
bạc chốn nào, hỡi Nam “Đừng làm ồn, để anh em ngủ”- Lời anh tôi nhớ suốt đời –
Tạ Hữu Nam.
II - Họa thơ
Bằng hữu thân
Tôi mà làm thơ, lại là thơ họa nữa chắc là “ họa” đến nơi. Tuy biết vậy,
nhưng cố tập tễnh thử xem sao.
Trên Nam Uùc Tuần Báo các số 723 và 724 xuất bản vào các ngày 4 và 11 tháng
12 năm 2009 có đăng 2 bài thơ của Cô Gia “ kêu gọi” tôi”vui gì miệt dưới mà lưu
luyến” và nhiều ý khác nữa. Tôi xin đăng lại nguyên văn 2 bài thơ đó ( bỏ qua
phần…rao nam mở đẩu của tác giả Cô Gia) và 2 bài họa của tôi.
Bài 1
Bác Nhuận “lòng vòng miệt dưới” ơi,
Rãnh rang nhắn nhủ bác vài lời.
Ở chi “dưới đó” cho tù túng,
Lên phức “trên này” sẽ thảnh thơi.
Chổ để dung thân nên lựa chỗ,
Nơi dùng gởi phận phải tùy nơi.
Lòng thành gởi mấy lời chân thật,
Chắc bác am tường ý của tôi?
Bài 2
Bác Nhuận “lòng vòng miệt dưới” ơi,
Hôm nào rãnh rỗi bác lên chơi.
Tùm lum “dưới đo”ù toàn khe lạch,
Ngồn ngộn “trên đây” rợp núi đồi.
Hun hút lạch sâu coi chán ngắt,
Nõn nà đồi trắng ngó mê tơi.
Vui gì “miệt dưới” mà lưu luyến.
Giấy vắn tình dài khó cạn lời!
Họa – Gửi Cô Gia
Bài 1
Cô đã gọi tôi mấy tiếng ơi,
Vậy đây hỏi nhỏ một đôi lời.
Hẵn rằng tiên giới không tù túng?
Hoặc giã trần gian chẳng thảnh thơi?
Ở rễ cho ai mà lựa chổ?
Làm dâu nhà nớ phải tìm nơi?
Thẳng thừng ruột ngựa là bản tính.
Tôi hiểu Cô, thì, Cô hiểu tôi?
Bài 2
Muốn đáp lời Cô sau tiếng ơi,
Quẵng bao phiền muộn, nhập cuộc chơi.
Theo gương Nguyễn Triễu vào khe lạch,
Tiếp bước Lưu Thần vượt núi đồi.
Tiên động đào hoa rồi sực tĩnh,
Mỹ nhân thần dược hóa tả tơi.
Tấm gương tiên mộng còn nguyên đó,
“ Giấy vắn tình dài khó cạn lời”…Cô Gia ơi
Lạm bàn:
Chuyện Tàu kể rằng 2 chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu đi tìm thuốc trường sinh,
lạc vào thiên thai. Ngỡ rằng chốn ấy là nơi lý tưởng để “ dung thân gởi phận”
nào ngờ “nữa năm tiên cảnh(bằng hoặc hơn) một bước trần ai” sồng chung đụng với
hàng vạn tiên nữ ( tệ lắm cũng cở… Á hậu) mà không được một lần chấm mút, sơ
múi, tức … bể bọng đái đành quyết định bái bay tiên đồng. Cho hay, chưa chắc ở
“trển” mà thảnh thơi thoải mái hoặc “dưới”này tù túng ! |