Home

 
 Tin Úc
 Thời sự
 Phiếm luận
 Nhân vật
 Chuyện đời thường
 Pháp luật
 Phụ nữ
 Gia đình
 Văn nghệ - Điện Ảnh
 Văn Thơ
 Sinh hoạt Cộng đồng
 Nhịp cầu Dân Việt
 Thư giãn
 Gia chánh - Mẹo vặt
 Web link
 Liên lạc


Links:
- KienThucVoThuat.com
- Damau.org

 
  Phiếm Luận
Tàu lạ - Tàu quen
03/08/2009
 

Bằng hữu thân,

 Hơn 30 năm trước, hằng triệu người Việt Nam, người già trẻ con, đàn bà, đàn ông mọi giới đã làm nên lịch sử, “đi vào biển lớn” mong tìm vùng trời tự do, vùng đất hứa mịt mờ nào đó để sinh tồn, để sống ra kiếp sống con người.


Trên hải trình thập tử nhất sinh kéo dài cả thập niên họ đã gặp nhiều “tàu quen, tàu lạ”. Hai hướng chính mà những đoàn exodus bắt buộc phải chọn: một là “Đông Tiến mang hy vọng cập bến Hồng Kong(còn là tô giới Anh) hoặc Philipine; hai là “Nam Tiến” để đến Malaysia, Indonesia, nếu kém may mắn hơn thì vào ThaiLand. Giữa đại dương bao la, họ có chung một nguyện cầu, cầu trời khẩn Phật, lạy Chúa toàn năng ban cho sự chở che, cứu độ bình an, đến nơi đến chốn (dù hoàn toàn không biết nơi nào sẻ đến), biển yên gió lặng, và đừng bao giờ gặp “tàu quen”, lại khát khao gặp “tàu lạ”. Điểm sau cùng nầy có vẻ rất nghịch lý, nhưng, thật tế là vậy.

Thực tế “tàu quen” là nổi ám ảnh lớn nhất đối với người vượt biển tìm tự do. Thật mỉa mai, khi những “tàu quen” mang tên “nhân dân” lại là hung thần sát thủ đối với “nhân dân” trong hoàn cảnh ngặt nghèo bí lối. Những “tàu quen” đó là của Công an nhân dân biên phòng, Hải Quan Nhân dân... của CSVN, cộng với tàu buôn mang cờ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô Viết, và tàu đánh cá của ngư dân ThaiLand. Những loại “tàu quen” nầy mang danh nghĩa “bảo vệ sự ổn định chính trị, kiên quyết trừng trị bọn phản quốc chạy ra nước ngoài (năm 1979 Phạm Văn Đồng tuyên bố như vậy), mang danh nghĩa hợp tác quốc tế anh em (trường hợp tàu Liên Xô), hoặc nỗi danh vị sự man rợ của hải tặc, đã không ngần ngại bắn trực tiếp, hoặc bắt giữ, tra tấn, cầm tù, giải giao (tàu Liên Xô thường hành xử như vậy) hoặc cướp bóc, hãm hiếp, thủ tiêu để phi tang . (Tôi có kinh nghiệm nầy – tàu vượt biên của tôi bị hải tặc Thailand tấn công hai lần trong một ngày. Khi tới Pulau Bidong tôi tường trình với ủy ban chống cướp biển về hình dáng – số đăng ký trước mủi các ngư thuyền trở thành phương tiện cướp bóc – so với hình ảnh trong catologe, số phụ nữ bị bắt cóc rất rạch ròi – chi tiết... Hơn nửa năm tại trại tỵ nạn, tôi không được một cơ quan, cá nhân nào hỏi tới). Không có nguy cơ gặp “tàu quen” Thailand trên trục hướng Đông, nhưng “tàu nhân dân” thì nhiều hơn.

Ngoài số đã “điểm danh” trên, còn các “hạm đội” đánh cá như “quốc doanh đánh cá Quảng Nam – Đà Nẵng, quốc doanh đánh cá Nghĩa Bình, Phú Khánh, Vũng Tàu – Côn Đảo v.v... cũng là những “lực lượng nhân dân” canh giữ biển, “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, ổn định trật tự an toàn xả hội “Sẵn sàng xử lý đích đáng, nặng tính”chuyên chính vô sản” trong mọi tình huống. Trường hợp nầy, “ngư dân” (Việt Nam) trở thành công an nhân dân với đầy đủ quyền hạn. Đã có nhiều “ca” không những “quen tàu” mà còn “quen người” nhưng “người quen” đã lạnh lùng khai hỏa, lạnh lùng “xử lý, trấn lột, hãm hiếp” rồi cầm tù... “người quen”.

Cho nên, lạy trời, lạy Phật, lạy Chúa, cho chúng con trên bước đường tẩu vong đừng gặp “quen” là nguyện ước đầu tiên và dằng dặc dai dẳng trong lòng từ khi bước chân lên thuyền tách bến cho đến khi đặt chân xuống bến tự do. Những cái tên trong mơ, chiếc tàu trong mộng, dù chưa một lần thấy tấm hình. Không cần biết ý nghĩa của cái tên, không cần biết nó mang quốc tịch gì, nhưng tất cả đều là “tia sáng hy vọng”. Cap Amour, Medicine Sans Frontie\re, hoặc Panama, Japan, Norway, Sweden, hoặc Đệ Nhất Hạm Đội Huê Kỳ... là những “tàu lạ” hoàn toàn lạ, nhưng là những “cái phao” huyền thoại. Hàng chục ngàn người Việt đã được những con tàu đó cứu vớt, đã từ “bọn đĩ điếm trây lười, phản quốc, trốn chạy ra nước ngoài” (lời Phạm Văn Đồng) sau hơn ba thập niên, sống rải rác khắp thế giới, đã có không ít người quên chuyện “tàu quen, tàu lạ” và trở thành “Việt Kiều yêu nước”, đã xuênh xoang áo gấm về làng. Không biết họ có đọc, có nghe nói đến (qua hệ thống thông tin tuyên truyền trong nước), ngày nay, Biển Đông, cửa ngỏ của quê hương, cùng trục tiến tới Philipine ngày xưa, xuất hiện nhiều “tàu lạ”.

30 năm không phải là thời gian lâu làm quên, xóa nhòa mọi ký ức, nhưng đã có những đổi thay nghịch hướng. 30 năm thù thành bạn, bởi câu thần chú 4 tốt, 16 chữ vàng của Hồ Cẩm Đào. Sáu tỉnh biên giới (với Trung Quốc) năm 1979 đẫm máu, tan hoang vì “dạy cho nhau một bài học”. Ngày nay trong lãnh thổ Lạng Sơn, Cao Bằng có hơn một chục “nghĩa trang” và những tấm bia “đời đời nhớ ơn liệt sĩ Trung Quốc”. Mỉa mai (nhục nhã) đến độ nầy là cùng. Cũng vì thù thành bạn, cho nên ta phải biếu bạn, món nầy món kia, nhưng làm sao đầy túi (tham) của bạn. Trên đất liền tạm ổn, có nghĩa trang, có bia tượng, “người bạn tốt” phương Bắc quay ra biển và đã thò “cái lưỡi bò” nuốt gần trọng Biển Đông, xuống tới Malaysia và nhiều “tàu lạ” xuất hiện trên lãnh hải Việt Nam là nỗi kinh hoàng đối với ngư dân dọc bờ biển Miền Trung.

Mới đây, “người láng giềng tốt” đã ra lệnh “phong tỏa” lãnh hải VN từ 15.6 đến 01.08.2009. Cám ơn, rất cám ơn “người láng giềng hữu hảo”, nhờ nị mà hằng vạn dân chài VN được hai tháng rưỡi gác lưới, hưởng mùa “ngư nhàn – holiday”.

“Tàu lạ” như cách nói chánh thức và lập đi lập lại của nhà nước CSVN đã bao phen đâm thủng, đánh chìm tàu đánh cá và bắt giữ ngư dân VN rồi đòi tiền chuộc, thứ mà họ gọi là tiền phạt ( lỗi gì?). Thậm chí đã có hằng chục dân hành nghề biển của VN đã bị “tàu lạ” xả súng giết hại. Hơn 30 năm toàn trị, chẳng lẽ lực lượng HQ Nhân Dân (lại nhân danh nhân dân), chỉ làm mỗi một công tác là ngăn chận vượt biển vượt biên mà không phát triển sức mạnh đủ để bảo vệ người dân, ngư trường, lãnh hải của mình. Ngư dân Miền Trung ngày nay phần đông thuộc thế hệ lớn lên sau 1975, có thể không có ý niệm về “Tàu lạ, tàu quen” của ba thập niên trước, Tàu HQ, CABP của CSVN – và mọi loại như vậy - đối với họ là “tàu quen”, rất quen. Những tàu nầy không hành xử như thời cuối thập niên 70 – 80 của thế kỷ trước (vì không có dịp thôi) và có thể trong giao tiếp họ cũng đã đôi lần được giúp đỡ. Còn “tàu lạ” đối với họ, cũng không lạ (có lạ hay không là do miệng lưỡi lãnh đạo). Trong hoạt động nghề nghiệp ngoài biển khơi, ngư dân VN, không gặp “tàu lạ” này thì gặp “tàu lạ” khác cùng hình dáng, kích thước có kẻ chữ Tàu, trương cờ Tàu.

Lạ với họ vì họ không thể biết nơi nào đó của đảo Hải Nam để thân nhân họ mang tiền tới chuộc người, chuộc ghe chuộc lưới. Nhưng lại “rất quen” với lãnh đạo vì lãnh đạo biết hết. Ngư dân là những người lao động vất cả cực nhọc, hiểu biết ở một chừng mực nhất định, đa số những người vượt biển đi tìm tự do ngày trước cũng vậy, nhưng “cảm” về “tàu lạ” hoàn toàn trái ngược nhau. “Tàu lạ” là niềm hy vọng, là cứu tinh.

30 năm sau “tàu lạ” là tuyệt vọng, là hung thần, là sát tinh. Dẫu có khác nhau về bối cảnh, “vị thế”, “hình ảnh tàu lạ, tàu quen” nhưng ngư dân và thuyền nhân Việt Nam (xin được dùng cách gọi nầy) đều mang nỗi ám ảnh khi ra khơi. Chỉ có giới lãnh đạo là hoàn toàn không có cảm giác như vậy. Trái lại, họ còn cảm thấy thỏa mản, vì, như Phạm Văn Đồng ngày trước, trước thảm cảnh thuyền nhân làm rung động con tim nhân loại, y “búa” thêm một câu kết án (tử hình), để thỏa mãn tự ái đảng, tự ái lãnh đạo, tự ái cá nhân của y.

Ngày nay, trước nỗi oan ức của ngư dân, lãnh đạo đương thời đã khoanh tay để giữ tình “láng giềng tốt, đối tác tốt v.v.....” (và mười sáu chữ vàng).

Viết thêm Nhân viết về... ghe tàu, tôi thêm vài dòng về... người Tàu, dựa trên chuyện cũ (thật cũ) và mới (thật mới). Xin không nói tới bốn (hay) năm ngàn năm văn hiến mà chỉ ghi lại một vụ cách đây gần hai ngàn năm và 1 vụ trong hiện tại. Tàu xưa học lịch sử riết thành Tàu quen, như Tô Định, như Mã Viện, mà cái mốc (cột mốc) đáng ghi nhớ nhất là trụ đồng “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt”. Tổ tiên ta lượng mình sức yếu, thì có phương cách phản kháng khác dù tiêu cực, nhưng đầy ý chí là chôn vùi (đến độ mất tích) cái cột đồng ô nhục ấy. Tàu nay, tên nghe, đọc hằng ngày dù rất quen, nhưng vẫn là những “tàu lạ”, như “tàu lạ” ngoài biển Đông, đó là Ôn Gia Bảo, Hồ Cẩm Đào, hoặc Triều Cương, Hồ Cẩm Tỏa v.v... Xin nhắc Triều Cương là Thứ Trưởng Ngoại Giao, Hồ Cẩm Tỏa là Tham Tán Kinh Tế Sứ Quán TC tại Hà Nội, hai tên nầy đã “rầy” Bộ máy nhà nước CSVN trong vụ thanh niên sinh viên trong nước biểu tình phản kháng TC trong vụ Hoàng Sa, Trường Sa và vụ Hội Thảo mới đây liên quan đến hàng rởm, hàng độc xuất xứ từ TQ đang tràn ngập VN. Nhưng “lãnh đạo ta” lại giữ gìn “tình hữu hảo hai đảng hai nhà nước như giữ con người trong mắt mình”.

Đôi lời nhắc bằng hữu

 Bằng hữu thân.

Tháng 8, có những Lễ Kỷ niệm “dính” với lính rất nhiều ý nghĩa. Trong tình chiến hữu anh em, tôi nhắc quý chiến hữu cố bỏ chút thì giờ tham gia một trong các buổi lễ ấy (nếu đi “trọn gói” thì quý biết mấy)

Đó là:

-VP Day (Victory In The Pacific) sẽ được các chi hội RSL (Úc) phối hợp tổ chức vào lúc 10 giờ sáng ngày 14.8.2009 tại Cabravale Park

-Trong ngày nầy, buổi tối, H/CQN/QLVNCH/NSW tổ chức Dạ tiệc Kỷ niệm Chiến Thắng Long Tân, tại Crystal Palace – Canley Heights.

- Long Tan Day – Chúa Nhật, lúc 8 giờ sáng sẽ có buổi lể Kỷ niệm Long Tan Day và Thượng Kỳ Úc - Việt tại Cabravale Park. Sau đó, chúng ta sẽ đi Springwood, dự lễ này tại đấy (lễ chính thức vào lúc 12 giờ trưa).

-Thứ Ba 18.8.2009, chúng ta sẽ đi dự Long Tan Day tại Muswellbrook – vùng Upper Hunter Valley.

Vì trang báo có hạn xin quý chiến hữu xem phần Thông Báo để biết thêm chi tiết

Thân ái.
Trần Đức Nhuận

 
Print | Back
Bài khác:
  »» Đọc "Biến Động Miền Trung" (Tiếp)  (27/07/2009)
  »» Đọc "Biến Động Miền Trung" (20/07/2009)
  »» Tán gẩu với Cô Tư (13/07/2009)
  »» Hà Pensioners? (22/06/2009)
  »» Thượng sĩ Ký (Hồi ký) (18/05/2009)
  »» A Lưới - A Lưới (23/03/2009)
 

 

 

  Office: 32/48-50 Hill Street - Cabramatta NSW 2166 - Tel: (02) 9728 1666 - Fax: (02) 9728 1600
© 2009 Viet Media Group - Email: info@danviet.com.au. Webdesign by VietNet