|
Trên hải trình thập tử nhất sinh kéo dài cả thập niên họ đã gặp nhiều
“tàu quen, tàu lạ”. Hai hướng chính mà những đoàn exodus bắt buộc phải chọn: một
là “Đông Tiến mang hy vọng cập bến Hồng Kong(còn là tô giới Anh) hoặc Philipine;
hai là “Nam Tiến” để đến Malaysia, Indonesia, nếu kém may mắn hơn thì vào
ThaiLand. Giữa đại dương bao la, họ có chung một nguyện cầu, cầu trời khẩn Phật,
lạy Chúa toàn năng ban cho sự chở che, cứu độ bình an, đến nơi đến chốn (dù hoàn
toàn không biết nơi nào sẻ đến), biển yên gió lặng, và đừng bao giờ gặp “tàu
quen”, lại khát khao gặp “tàu lạ”. Điểm sau cùng nầy có vẻ rất nghịch lý, nhưng,
thật tế là vậy.
Thực tế “tàu quen” là nổi ám ảnh lớn nhất đối với người vượt biển tìm tự do.
Thật mỉa mai, khi những “tàu quen” mang tên “nhân dân” lại là hung thần sát thủ
đối với “nhân dân” trong hoàn cảnh ngặt nghèo bí lối. Những “tàu quen” đó là của
Công an nhân dân biên phòng, Hải Quan Nhân dân... của CSVN, cộng với tàu buôn
mang cờ Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Liên Bang Xô Viết, và tàu đánh cá của ngư dân
ThaiLand. Những loại “tàu quen” nầy mang danh nghĩa “bảo vệ sự ổn định chính
trị, kiên quyết trừng trị bọn phản quốc chạy ra nước ngoài (năm 1979 Phạm Văn
Đồng tuyên bố như vậy), mang danh nghĩa hợp tác quốc tế anh em (trường hợp tàu
Liên Xô), hoặc nỗi danh vị sự man rợ của hải tặc, đã không ngần ngại bắn trực
tiếp, hoặc bắt giữ, tra tấn, cầm tù, giải giao (tàu Liên Xô thường hành xử như
vậy) hoặc cướp bóc, hãm hiếp, thủ tiêu để phi tang . (Tôi có kinh nghiệm nầy –
tàu vượt biên của tôi bị hải tặc Thailand tấn công hai lần trong một ngày. Khi
tới Pulau Bidong tôi tường trình với ủy ban chống cướp biển về hình dáng – số
đăng ký trước mủi các ngư thuyền trở thành phương tiện cướp bóc – so với hình
ảnh trong catologe, số phụ nữ bị bắt cóc rất rạch ròi – chi tiết... Hơn nửa năm
tại trại tỵ nạn, tôi không được một cơ quan, cá nhân nào hỏi tới). Không có nguy
cơ gặp “tàu quen” Thailand trên trục hướng Đông, nhưng “tàu nhân dân” thì nhiều
hơn.
Ngoài số đã “điểm danh” trên, còn các “hạm đội” đánh cá như “quốc doanh đánh
cá Quảng Nam – Đà Nẵng, quốc doanh đánh cá Nghĩa Bình, Phú Khánh, Vũng Tàu – Côn
Đảo v.v... cũng là những “lực lượng nhân dân” canh giữ biển, “bảo vệ chủ quyền
lãnh thổ, ổn định trật tự an toàn xả hội “Sẵn sàng xử lý đích đáng, nặng
tính”chuyên chính vô sản” trong mọi tình huống. Trường hợp nầy, “ngư dân” (Việt
Nam) trở thành công an nhân dân với đầy đủ quyền hạn. Đã có nhiều “ca” không
những “quen tàu” mà còn “quen người” nhưng “người quen” đã lạnh lùng khai hỏa,
lạnh lùng “xử lý, trấn lột, hãm hiếp” rồi cầm tù... “người quen”.
Cho nên, lạy trời, lạy Phật, lạy Chúa, cho chúng con trên bước đường tẩu vong
đừng gặp “quen” là nguyện ước đầu tiên và dằng dặc dai dẳng trong lòng từ khi
bước chân lên thuyền tách bến cho đến khi đặt chân xuống bến tự do. Những cái
tên trong mơ, chiếc tàu trong mộng, dù chưa một lần thấy tấm hình. Không cần
biết ý nghĩa của cái tên, không cần biết nó mang quốc tịch gì, nhưng tất cả đều
là “tia sáng hy vọng”. Cap Amour, Medicine Sans Frontie\re, hoặc Panama, Japan,
Norway, Sweden, hoặc Đệ Nhất Hạm Đội Huê Kỳ... là những “tàu lạ” hoàn toàn lạ,
nhưng là những “cái phao” huyền thoại. Hàng chục ngàn người Việt đã được những
con tàu đó cứu vớt, đã từ “bọn đĩ điếm trây lười, phản quốc, trốn chạy ra nước
ngoài” (lời Phạm Văn Đồng) sau hơn ba thập niên, sống rải rác khắp thế giới, đã
có không ít người quên chuyện “tàu quen, tàu lạ” và trở thành “Việt Kiều yêu
nước”, đã xuênh xoang áo gấm về làng. Không biết họ có đọc, có nghe nói đến (qua
hệ thống thông tin tuyên truyền trong nước), ngày nay, Biển Đông, cửa ngỏ của
quê hương, cùng trục tiến tới Philipine ngày xưa, xuất hiện nhiều “tàu lạ”.
30 năm không phải là thời gian lâu làm quên, xóa nhòa mọi ký ức, nhưng đã có
những đổi thay nghịch hướng. 30 năm thù thành bạn, bởi câu thần chú 4 tốt, 16
chữ vàng của Hồ Cẩm Đào. Sáu tỉnh biên giới (với Trung Quốc) năm 1979 đẫm máu,
tan hoang vì “dạy cho nhau một bài học”. Ngày nay trong lãnh thổ Lạng Sơn, Cao
Bằng có hơn một chục “nghĩa trang” và những tấm bia “đời đời nhớ ơn liệt sĩ
Trung Quốc”. Mỉa mai (nhục nhã) đến độ nầy là cùng. Cũng vì thù thành bạn, cho
nên ta phải biếu bạn, món nầy món kia, nhưng làm sao đầy túi (tham) của bạn.
Trên đất liền tạm ổn, có nghĩa trang, có bia tượng, “người bạn tốt” phương Bắc
quay ra biển và đã thò “cái lưỡi bò” nuốt gần trọng Biển Đông, xuống tới
Malaysia và nhiều “tàu lạ” xuất hiện trên lãnh hải Việt Nam là nỗi kinh hoàng
đối với ngư dân dọc bờ biển Miền Trung.
Mới đây, “người láng giềng tốt” đã ra lệnh “phong tỏa” lãnh hải VN từ 15.6
đến 01.08.2009. Cám ơn, rất cám ơn “người láng giềng hữu hảo”, nhờ nị mà hằng
vạn dân chài VN được hai tháng rưỡi gác lưới, hưởng mùa “ngư nhàn – holiday”.
“Tàu lạ” như cách nói chánh thức và lập đi lập lại của nhà nước CSVN đã bao
phen đâm thủng, đánh chìm tàu đánh cá và bắt giữ ngư dân VN rồi đòi tiền chuộc,
thứ mà họ gọi là tiền phạt ( lỗi gì?). Thậm chí đã có hằng chục dân hành nghề
biển của VN đã bị “tàu lạ” xả súng giết hại. Hơn 30 năm toàn trị, chẳng lẽ lực
lượng HQ Nhân Dân (lại nhân danh nhân dân), chỉ làm mỗi một công tác là ngăn
chận vượt biển vượt biên mà không phát triển sức mạnh đủ để bảo vệ người dân,
ngư trường, lãnh hải của mình. Ngư dân Miền Trung ngày nay phần đông thuộc thế
hệ lớn lên sau 1975, có thể không có ý niệm về “Tàu lạ, tàu quen” của ba thập
niên trước, Tàu HQ, CABP của CSVN – và mọi loại như vậy - đối với họ là “tàu
quen”, rất quen. Những tàu nầy không hành xử như thời cuối thập niên 70 – 80 của
thế kỷ trước (vì không có dịp thôi) và có thể trong giao tiếp họ cũng đã đôi lần
được giúp đỡ. Còn “tàu lạ” đối với họ, cũng không lạ (có lạ hay không là do
miệng lưỡi lãnh đạo). Trong hoạt động nghề nghiệp ngoài biển khơi, ngư dân VN,
không gặp “tàu lạ” này thì gặp “tàu lạ” khác cùng hình dáng, kích thước có kẻ
chữ Tàu, trương cờ Tàu.
Lạ với họ vì họ không thể biết nơi nào đó của đảo Hải Nam để thân nhân họ
mang tiền tới chuộc người, chuộc ghe chuộc lưới. Nhưng lại “rất quen” với lãnh
đạo vì lãnh đạo biết hết. Ngư dân là những người lao động vất cả cực nhọc, hiểu
biết ở một chừng mực nhất định, đa số những người vượt biển đi tìm tự do ngày
trước cũng vậy, nhưng “cảm” về “tàu lạ” hoàn toàn trái ngược nhau. “Tàu lạ” là
niềm hy vọng, là cứu tinh.
30 năm sau “tàu lạ” là tuyệt vọng, là hung thần, là sát tinh. Dẫu có khác
nhau về bối cảnh, “vị thế”, “hình ảnh tàu lạ, tàu quen” nhưng ngư dân và thuyền
nhân Việt Nam (xin được dùng cách gọi nầy) đều mang nỗi ám ảnh khi ra khơi. Chỉ
có giới lãnh đạo là hoàn toàn không có cảm giác như vậy. Trái lại, họ còn cảm
thấy thỏa mản, vì, như Phạm Văn Đồng ngày trước, trước thảm cảnh thuyền nhân làm
rung động con tim nhân loại, y “búa” thêm một câu kết án (tử hình), để thỏa mãn
tự ái đảng, tự ái lãnh đạo, tự ái cá nhân của y.
Ngày nay, trước nỗi oan ức của ngư dân, lãnh đạo đương thời đã khoanh tay để
giữ tình “láng giềng tốt, đối tác tốt v.v.....” (và mười sáu chữ vàng).
Viết thêm Nhân viết về... ghe tàu, tôi thêm vài dòng về... người Tàu, dựa
trên chuyện cũ (thật cũ) và mới (thật mới). Xin không nói tới bốn (hay) năm ngàn
năm văn hiến mà chỉ ghi lại một vụ cách đây gần hai ngàn năm và 1 vụ trong hiện
tại. Tàu xưa học lịch sử riết thành Tàu quen, như Tô Định, như Mã Viện, mà cái
mốc (cột mốc) đáng ghi nhớ nhất là trụ đồng “Đồng trụ chiết, Giao chỉ diệt”. Tổ
tiên ta lượng mình sức yếu, thì có phương cách phản kháng khác dù tiêu cực,
nhưng đầy ý chí là chôn vùi (đến độ mất tích) cái cột đồng ô nhục ấy. Tàu nay,
tên nghe, đọc hằng ngày dù rất quen, nhưng vẫn là những “tàu lạ”, như “tàu lạ”
ngoài biển Đông, đó là Ôn Gia Bảo, Hồ Cẩm Đào, hoặc Triều Cương, Hồ Cẩm Tỏa
v.v... Xin nhắc Triều Cương là Thứ Trưởng Ngoại Giao, Hồ Cẩm Tỏa là Tham Tán
Kinh Tế Sứ Quán TC tại Hà Nội, hai tên nầy đã “rầy” Bộ máy nhà nước CSVN trong
vụ thanh niên sinh viên trong nước biểu tình phản kháng TC trong vụ Hoàng Sa,
Trường Sa và vụ Hội Thảo mới đây liên quan đến hàng rởm, hàng độc xuất xứ từ TQ
đang tràn ngập VN. Nhưng “lãnh đạo ta” lại giữ gìn “tình hữu hảo hai đảng hai
nhà nước như giữ con người trong mắt mình”.
Đôi lời nhắc bằng hữu
Bằng hữu thân.
Tháng 8, có những Lễ Kỷ niệm “dính” với lính rất nhiều ý nghĩa. Trong tình
chiến hữu anh em, tôi nhắc quý chiến hữu cố bỏ chút thì giờ tham gia một trong
các buổi lễ ấy (nếu đi “trọn gói” thì quý biết mấy)
Đó là:
-VP Day (Victory In The Pacific) sẽ được các chi hội RSL (Úc) phối hợp tổ
chức vào lúc 10 giờ sáng ngày 14.8.2009 tại Cabravale Park
-Trong ngày nầy, buổi tối, H/CQN/QLVNCH/NSW tổ chức Dạ tiệc Kỷ niệm Chiến
Thắng Long Tân, tại Crystal Palace – Canley Heights.
- Long Tan Day – Chúa Nhật, lúc 8 giờ sáng sẽ có buổi lể Kỷ niệm Long Tan Day
và Thượng Kỳ Úc - Việt tại Cabravale Park. Sau đó, chúng ta sẽ đi Springwood, dự
lễ này tại đấy (lễ chính thức vào lúc 12 giờ trưa).
-Thứ Ba 18.8.2009, chúng ta sẽ đi dự Long Tan Day tại Muswellbrook – vùng
Upper Hunter Valley.
Vì trang báo có hạn xin quý chiến hữu xem phần Thông Báo để biết thêm chi
tiết
Thân ái. Trần Đức Nhuận |